Sản xuất công nghiệp vẫn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức

07/11/2023 08:01 Số lượt xem: 71

Tháng 10, không như kỳ vọng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tuy tiếp tục tăng nhẹ (+0,93%) so với tháng trước nhưng so với cùng tháng năm trước lại bị giảm nhiều (-3,99%) so với CK, tuy nhiên trong đó chỉ số sản xuất ngành SXSP điện tử, máy tính và quang học - ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất, có chỉ số tích cực hơn; cụ thể có mức tăng (+1,17%) so với tháng trước và mức giảm (- 2,54%) so với CK. Tính chung 10 tháng, IIP toàn ngành vẫn giảm khá sâu (- 12,96%) so với CK (chỉ số này của 9 tháng là -13,82%).


 

1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Sản xuất công nghiệp hiện vẫn đối mặt với nhiều khó khăn khi đơn hàng giảm, sức cầu yếu, chi phí đầu vào tăng cao. Sự sụt giảm quy mô ở cả thị trường trong nước lẫn thị trường xuất khẩu, các doanh nghiệp trên địa bàn đang phải gồng mình sản xuất cầm chừng để duy trì hoạt động mong chờ sự khởi sắc hơn trong những tháng cuối năm khi kinh tế thế giới hồi phục.

Tháng 10, phân tích diễn biến IIP toàn ngành và cụ thể ở các ngành công nghiệp cấp 1, cấp 2 so với các gốc so sánh ta thấy:

+ So với tháng trước, IIP toàn ngành công nghiệp tăng nhẹ (+0,93%), trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (+0,91%) tăng do “ngành 26. sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học” chiếm tỷ trọng nhiều nhất (+1,17%). Xét theo ngành kinh tế cấp 2, có 15/24 ngành có mức sản xuất tăng, một số ngành có chỉ số tăng.…Ở chiều ngược lại, có 09/24 ngành cấp 2 có chỉ số sản xuất giảm so với tháng trước trong đó một số ngành giảm nhiều như: SX đồ uống (-14,23%); SX thiết bị điện (-22,43%);...

+ So với cùng tháng năm trước, IIP toàn ngành công nghiệp vẫn giảm 3,99%. Nguyên nhân ở đây một phần do tình hình địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, nhất là cuộc xung đột ở khu vực Trung đông diễn ra gần đây. Trong tháng, mặc dù doanh nghiệp trong ngành SXSP điện tử đã đưa ra thị trường các sản phẩm mới nhưng sức mua thị trường còn thấp nên khối lượng sản phẩm xuất ra vẫn giảm so với CK. Xét theo ngành công nghiệp cấp 2, có 14/24 ngành có chỉ số sản xuất giảm so với CK, một số ngành giảm nhiều như: SX đồ uống (-19,17%); SX và SP từ giấy (-17,51%); SX hóa chất và SP hóa chất (-37,23%); SXSP từ cao su và plastics (-32,85%); SX phương tiện vận tải khác (-42,13%); đặc biệt ngành SXSP điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-2,54%). Ở chiều ngược lại, vẫn có 9 ngành có chỉ số tăng so với cùng kỳ như: SX trang phục (+16,2%); In và sao chép bản ghi các loại (+6,74%); SX thuốc và hoá dược liệu (+8,67%); Thoát nước và xử lý nước thải (+21,69%); …

Tính chung 10 tháng, IIP toàn ngành vẫn giảm khá sâu (-12,96%) so với CK và đây cũng là mức giảm sâu nhất trong 5 năm trở lại đây; trong đó diễn biến ở các ngành công nghiệp cấp 1 như sau: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (-13,06%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (+0,42%) và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (+7,22%). Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 15/20 ngành cấp 2 có chỉ số sản xuất giảm, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm mạnh là: SX trang phục (-27,39%); In và sao chép bản ghi các loại (-24,5%); SX giấy và sản phẩm từ giấy (-22,81%); SX hoá chất và SP hoá chất (-29,54%); SXSP điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (-12,84%). 05 ngành còn lại có chỉ số sản xuất tăng, đó là: SX đồ uống (+1,85%); SXSP thuốc lá (+2,79%); SX thuốc, hóa dược và dược liệu (+5,78%); SX kim loại (+3,74%) và SX máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu (+1,11%).


 

2. Sản phẩm công nghiệp

Tháng 10, sản xuất công nghiệp vẫn duy trì mức tăng so với tháng trước, một số sản phẩm của các doanh nghiệp trọng điểm của tỉnh thuộc khu vực FDI vẫn trong chu kỳ sản xuất tăng cường nên nhiều sản phẩm trọng điểm tăng mạnh so với tháng trước cũng như so với tháng cùng kỳ, cụ thể là:

+ So với tháng trước, có 17/23 sản phẩm chủ yếu có mức tăng, trong đó có 03/06 sản phẩm trọng điểm của tỉnh là: Điện thoại di động thường (+1,1%); Đồng hồ thông minh (+10,2%) và Linh kiện điện tử (+4,3%). Tăng do các doanh nghiệp lớn thuộc khu vực FDI đã vào chu kỳ tăng cường sản xuất nên nhiều sản phẩm đạt mức tăng so với tháng trước. Ở chiều ngược lại, có 06/23 sản phẩm chủ yếu có mức giảm, trong đó có 03 sản phẩm trọng điểm của tỉnh đó là: Máy in (-7,5%); Điện thoại thông minh các loại (-11,1%); Pin điện thoại các loại (-40,2%).

+ So với cùng tháng năm trước, có 12/23 sản phẩm chủ yếu của tỉnh có mức giảm, trong đó có 04 sản phẩm trọng điểm đó là: Máy in (-39,4%); Điện thoại thông minh các loại (-32,3%); Đồng hồ thông minh (-4,3%) và Pin điện thoại các loại (-26,9%). Có 01 sản phẩm có sản lượng giữ nguyên là điện thương phẩm; chỉ có 10 sản phẩm đạt mức tăng so với cùng tháng năm trước, trong đó có 02 sản phẩm trọng điểm của tỉnh là: Điện thoại di động thường (+40,3%) và Linh kiện điện tử (+6,7%).

Tính chung 10 tháng, do nhu cầu tiêu dùng cũng như số lượng các đơn đặt hàng giảm nên vẫn có 14/23 sản phẩm công nghiệp của tỉnh có mức giảm so với cùng kỳ, trong đó 100% sản phẩm trọng điểm của tỉnh đều bị giảm, cụ thể: Máy in (-39,5%); Điện thoại di động thường (-5,4%); Điện thoại thông minh (- 15,4%); Đồng hồ thông minh, (-20,1%); Linh kiện điện tử (-7,8%) và Pin điện thoại các loại (-24,3%).

3. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Tại thời điểm 01/10/2023, chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp so với cùng thời điểm tháng trước và cùng thời điểm tháng cùng kỳ đều giảm lần lượt là (-1,05%) và (-3,95%). Xét theo loại hình doanh nghiệp: Lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước so với các gốc so sánh cùng thời điểm tháng trước và cùng thời điểm tháng cùng kỳ lần lượt là giữ nguyên và (-2,87%); doanh nghiệp ngoài Nhà nước (-0,33%) và (-3,3%); Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (-1,18%) và (-4,07%). Cũng tại thời điểm trên, xét theo ngành công nghiệp cấp 1 cho thấy: Lao động làm việc trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (-1,08%) so với cùng thời điểm tháng trước và (-4,02%) so với thời điểm tháng cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí, giữ nguyên và (-0,76%); riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng ở 2 gốc so sánh lần lượt là (+1,11%) và (+1,45%).

Tính chung 10 tháng, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp (-7,45%) so với cùng kỳ, trong đó lao động làm việc trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (-7,54%); ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng nhẹ (+0,08%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải (-2,87%). Các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lao động (-4,61%); doanh nghiệp ngoài Nhà nước (-5,9%) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm nhiều nhất (-7,75%) đã tác động trực tiếp làm giảm quy mô lao động chung của các doanh nghiệp công nghiệp.

Ban biên tập

 
 

Thống kê truy cập

Online : 6598
Đã truy cập : 130980186