Tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh năm 2018; Kế hoạch phát triển năm 2019

25/12/2018 14:09 Số lượt xem: 3106

I. Đánh giá khái quát kết quả đạt được

            Bước vào thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2018 ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã kịp thời ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ;    

            Nghị quyết số 91/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh và Kết luận số 162-KL/TU của Tỉnh ủy về tình hình, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Đồng thời các Sở, ban, ngành, địa phương đã khẩn trương ban hành các văn bản tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện tương đối nhanh, đúng, trúng, hiệu quả các Chủ trương, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, cùng với sự giám sát chặt chẽ, linh hoạt, sáng tạo của Hội đồng nhân dân các cấp để phấn đấu đạt cao nhất các mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra.

Quan điểm xuyên suốt trong chỉ đạo điều hành là tăng cường kỷ luật kỷ cương; xây dựng hệ thống hành chính liêm chính, hành động, hỗ trợ và phục vụ; thực hiện quyết liệt, hiệu quả việc tinh gọn bộ máy, sắp xếp tổ chức, nhiệm vụ, chức năng của nhiều tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Thực hiện nghiêm túc, tập trung, hiệu quả các Chương trình hành động triển khai các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành 10 Chỉ thị và nhiều văn bản, chính sách tăng cường quản lý, đẩy mạnh phát triển toàn diện các lĩnh vực.

Quyết liệt cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, tháo gỡ khó khăn, tiết giảm chi phí, thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất kinh doanh, tạo động lực tăng trưởng, chú trọng các ngành, lĩnh vực có tiềm năng lớn; khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp, phát huy tiềm năng, thế mạnh, quyết tâm tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội.

Lãnh đạo tỉnh, các ngành, các cấp luôn sâu sát cơ sở, nắm chắc tình hình, chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng, cấp bách; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ kết luận các buổi làm việc; đối thoại, lắng nghe, giải quyết kiến nghị, tháo gỡ khó khăn của người dân, doanh nghiệp; thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các vấn đề bức xúc xã hội; bảo đảm quốc phòng, quân sự địa phương, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội.

Nhờ sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong tỉnh, sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Trung ương, các bộ ngành, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả toàn diện trên tất cả các lĩnh vực:

Bắc Ninh tiếp tục khẳng định vững chắc là cực tăng trưởng của vùng Bắc bộ và cả nước, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) ước tăng 10,6% so với năm 2017 tạo động lực quan trọng xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 76,6% (trong đó, công nghiệp chiếm 72,2%); dịch vụ chiếm 20,7%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 2,7%.

Sản xuất công nghiệp khẳng định vững chắc là động lực tăng trưởng của tỉnh, quy mô khu vực công nghiệp trong GRDP đạt 120.002 tỷ đồng, tăng 11,6%; giá trị sản xuất công nghiệp đạt 1.136.000 tỷ đồng, tăng 11,6% so với cùng kỳ; trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước 1.055.600 tỷ đồng, tăng 12%.

Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản có bước phát triển, tăng trưởng đạt 4.023 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ; giá trị sản xuất (giá SS năm 2010) ước 8.861,8 tỷ đồng, vượt 1,3% kế hoạch năm, tăng 2,5%. Năng suất năng suất lúa cả năm đạt cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, ước 61,8 tạ/ha, tăng 1,7 tạ so với năm trước.

Công tác thú y được tăng cường, chăn nuôi có nhiều khởi sắc, giá các sản phẩm đầu ra tăng cao, thị trường ổn định; xuất hiện các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao; xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, toàn tỉnh đã có 89 xã/97 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Các hoạt động liên kết vùng, liên kết tỉnh được đẩy mạnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước 49.081 tỷ đồng, tăng 9,1%, trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước 37.056 tỷ đồng, tăng 9,3%. Chú trọng thực hiện chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ về phát triển du lịch nước ta trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; doanh thu dịch vụ du lịch, tổng lượt khách đều tăng 20%.

Hoạt động ngoại thương phát triển mạnh, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu ước 66,12 tỷ USD, tăng 6,6% (tương đương tăng 4,1 tỷ USD), trong đó xuất khẩu ước 34,85 tỷ USD, tăng 10,7% (tương đương tăng 3,35 tỷ USD).

Thu ngân sách nhà nước tiếp tục tăng nhanh, đạt 27.591 tỷ đồng, vượt 15,6% dự toán năm (tương đương vượt 3.730 tỷ đồng), tăng 22,3% (tương đương tăng 5031 tỷ đồng so với năm 2017); trong đó thu nội địa 21.641 tỷ đồng, vượt 20,5% so dự toán (vượt 3.680 tỷ đồng) và tăng 30,9% (tăng 5.108 tỷ đồng). Chi ngân sách địa phương được kiểm soát chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả.

Hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phát triển ổn định, an toàn, đảm bảo tốt khả năng thanh khoản.

Công tác quản lý đầu tư công được tăng cường, tập trung thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản; rà soát, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020; xử lý những vướng mắc trong đầu tư công, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP); rà soát, sửa đổi quy định phân công phân cấp quản lý dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn; đẩy mạnh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, khánh thành nhiều công trình có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển của tỉnh như Tượng đài, Đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt, Nhà chứa Quan họ...; thực hiện tốt công tác chuẩn bị đầu tư, đảm bảo theo đúng quy định. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn toàn tỉnh ước 84.125 tỷ đồng, giảm 29,2% so cùng kỳ do khu vực có vốn đầu tư FDI giảm 40% do công ty Samsung Display đã giải ngân hết vốn đầu tư đăng ký trong năm 2017.

Tập trung cao cho công tác quy hoạch, phát triển và quản lý đô thị, quy hoạch xây dựng vùng tỉnh được Thủ tướng phê duyệt; công bố quyết định công nhận thành phố Bắc Ninh là đô thị loại I; thị xã Từ Sơn được công nhận là đô thị loại 3, đô thị Nhân Thắng được công nhận là đô thị loại 5, hoàn thiện đề án xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Tăng cường đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp điện, cấp nước), đô thị, nhà ở, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại, bền vững đúng với mục tiêu xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022...

Hệ thống các nhà máy cung cấp nước sạch được quan tâm triển khai đầu tư và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của nhân dân; các công trình cung cấp điện được nâng công suất, đủ khả năng đáp ứng cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là ở những nơi có nhu cầu sử dụng lớn.

Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, cải cách hành chính thực hiện mạnh mẽ, kết nối, đồng bộ, công khai thủ tục hành chính, phê duyệt 243/402 thủ tục hành chính của 17 Sở, ban, ngành thực hiện 4 tại chỗ “tiếp nhận - thẩm định - giải quyết - trả kết quả” tại Trung tâm Hành chính công tỉnh; quyết liệt sắp xếp, tinh gọn hiệu quả bộ máy chính quyền, thành lập mới 02 đơn vị, giảm 51 đầu mối cơ quan, đơn vị, giảm 51 cấp trưởng và tương đương, giảm 23 cấp phó và tương đương, tinh giản biên chế 369 người.

Phê duyệt Đề án Chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi nhất để khởi sự kinh doanh. Tổ chức thành công 3 buổi gặp mặt, đối thoại với doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đối thoại về chính sách thuế, tháo gỡ khó khăn, giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp; tích cực thực hiện có hiệu quả việc cấp đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử và nhận kết quả qua bưu điện; từ đầu năm đến nay, đã thu hút mới 119 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn là 25.100 tỷ đồng, điều chỉnh 109 dự án với tổng số vốn tăng 5.704 tỷ đồng; thu hút mới 178 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký 408 triệu USD, điều chỉnh vốn 121 dự án với số vốn điều chỉnh tăng 856 triệu USD và đăng ký thành lập mới 2.042 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký là: 18.115 tỷ đồng và 681 đơn vị trực thuộc.

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tích cực tổ chức thành công các nghi lễ và hoạt động văn hóa, Lễ vinh danh Nghệ nhân di sản văn hóa phi vật thể; Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm tỉnh Bắc Ninh; Chương trình hát dân ca quan họ Bắc Ninh trên thuyền tại hồ Nguyên Phi Ỷ Lan và ở một số nước Châu Âu; tăng cường quản lý, bảo tồn, phát huy các di sản, di tích văn hóa, lịch sử; đẩy mạnh tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện nếp sống văn minh; nâng cao chất lượng công tác phòng chống bạo lực gia đình và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Thể thao thành tích cao phá kỷ lục thế giới ở Bộ môn Cử tạ; đội bóng chuyền nữ Kinh Bắc giành ngôi vô địch giải hạng A và thăng hạng thi đấu giải Vô địch quốc gia.

Sự nghiệp Giáo dục – Đào tạo được quan tâm, tập trung chỉ đạo; lần đầu tiên Bắc Ninh có dự án được chọn thi cấp Quốc tế trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật; tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ; triển khai thực hiện có hiệu quả đề án “Nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn trường THPT chuyên Bắc Ninh và 8 trường THCS trọng điểm”.

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống tiếp tục được triển khai thực hiện có hiệu quả. Đã tổ chức thực hiện 41 đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh, 455 đề tài cấp cơ sở, chuyển giao 95 quy trình kỹ thuật phục vụ sản xuất.

Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực; nâng cao hiệu quả và thực hiện tốt công tác y tế dự phòng. Chủ động đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn kiến thức, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát đảm bảo an toàn thực phẩm, tích cực triển khai thực hiện đề án “Bắc Ninh phấn đấu không có thực phẩm bẩn”.

An sinh và phúc lợi xã hội được đảm bảo, quan tâm ở mức cao hơn so với cả nước, tập trung rà soát, phê duyệt bổ sung hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo (408 nhà) và người có công (742 nhà); đẩy nhanh tiến độ hỗ trợ nhà ở cho người có công, hộ nghèo, hoàn thành hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; đã hoàn thành 71% kế hoạch hỗ trợ nhà ở cho người có công, phấn đấu hoàn thành 100% kế hoạch trước tết Nguyên đán; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,62%; thiết chế văn hóa thể thao khu công nghiệp được quan tâm.

 Công tác quản lý tài nguyên đất đai, quản lý chất thải rắn và cải thiện môi trường được tăng cường hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải nguồn nước. Tăng cường quản lý nhà nước, chấn chỉnh và giải quyết triệt để những sai phạm trong khai thác, tập kết cát sỏi lòng sông và vật liệu xây dựng trên địa bàn.

Công tác thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí đạt nhiều kết quả quan trọng, thực hiện 157 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 6.294 đơn vị, doanh nghiệp, kiến nghị xử lý kinh tế 28.007 triệu đồng. Chủ động rà soát, giải quyết dứt điểm nhiều đơn thư tồn đọng, kéo dài, giảm thiểu bức xúc của nhân dân, chất lượng giải quyết đơn thư được nâng cao góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; đơn thư, khiếu nại, tố cáo, số đoàn đông người đều giảm. Tiến hành 8 cuộc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng tại 6 đơn vị; hướng dẫn các đơn vị thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập của 67 đơn vị, số người phải kê khai là 7.369/7.369 người.

Công tác tư pháp được triển khai toàn diện, xây dựng văn bản được tăng cường, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện đảm bảo tiến độ và chất lượng.

Công tác Quốc phòng – quân sự địa phương, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ bảo đảm, tai nạn giao thông được kiềm chế, giảm cả 3 tiêu chí.

Hoạt động thông tin và truyền thông, công tác thông tin, báo chí xuất bản được đẩy mạnh, thông tin đối ngoại được quan tâm; đảm bảo an toàn, an ninh thông tin, thực hiện tốt chương trình viễn thông công ích, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng thành phố thông minh, kiến trúc chính quyền điện tử, trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh, hệ thống camera giám sát.

II. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019

1. Dự báo tình hình

Năm 2019 được dự báo còn nhiều khó khăn, thách thức, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, tiếp tục đà phát triển thuận lợi những năm gần đây, tiềm lực đất nước vững mạnh hơn nhiều. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém và những khó khăn, thách thức lớn.

Trong tỉnh, đang bước vào giai đoạn phát triển ở tầm cao mới với các động lực mạnh mẽ hướng tới xây dựng tỉnh Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022 nhưng kinh tế phát triển chưa thực sự bền vững, phụ thuộc chủ yếu vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cùng với các vấn đề về ô nhiễm môi trường, các lợi thế so sánh về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng không còn là yếu tố quyết định đang là những thách thức, rào cản đối với sự phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh. 

2. Mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Chủ đề năm 2019: “Bắc Ninh hành động vì môi trường sạch”.

Năm 2019, tỉnh Bắc Ninh đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo hướng xanh và bền vững; đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, tái cơ cấu kinh tế, tạo bước đột phá thúc đẩy phát triển dịch vụ thương mại theo hướng văn minh, hiện đại; tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ; quan tâm tới nông nghiệp, nông dân và nông thôn, chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển đô thị, phát triển kinh tế làng nghề; tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh; thực hiện có hiệu quả các chương trình nâng cấp, phát triển đô thị, nâng cao tỷ lệ đô thị hóa, sớm hoàn thiện các tiêu chí về hạ tầng của thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thông minh, kiến trúc chính quyền điện tử; tăng cường công tác quản lý tài nguyên, tập trung xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; giữ vững quốc phòng an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội.

2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu

Trên cơ sở Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, kết quả thực hiện các chỉ tiêu năm 2018, dự kiến các chỉ tiêu năm 2019 như sau:

(1). Tổng sản phẩm kinh tế (GRDP) năm 2019 tăng 7,0% - 8,0%; dự kiến năm 2020 tăng trưởng từ 7,7% trở lên thì sẽ đạt mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX ở mức tăng trưởng cao BQ là 11,5%/năm và để hoàn thành mức tăng BQ 10,5%/năm, thì năm 2020 cần đạt mức tăng trưởng là 4% (mục tiêu ĐH tăng 10,5 – 11,5%/năm).

(2). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 62 tỷ USD; trong đó, xuất khẩu là 33 tỷ USD; nhập khẩu 29 tỷ USD;

(3). Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn 70.600 tỷ đồng;

(4). Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2019 là 27.397 tỷ đồng; trong đó thu nội địa là 21.147 tỷ đồng;

(5). Giá trị sản xuất công nghiệp (giá SS năm 2010) là 1.232.500 tỷ đồng;

(6). Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản là 8.950 tỷ đồng;

(7). Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 53.380 tỷ đồng;

(8). Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm, còn 1,6%;

(9). Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị còn 2,5%;

(10). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 72%;

(11). Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 16,0%; công nghiệp và xây dựng là 51,9%; dịch vụ là 32,1%;

(12). Số giường bệnh/ 1 vạn dân (không tính trạm y tế xã) đạt 35,5 giường;

(13). Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,5%;

(14). Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%; 100% các xã ở Tiên Du, Yên Phong và thị xã Từ Sơn xây dựng lò đốt rác; 100% các xã có phong trào làm sạch đồng ruộng hiệu quả; 100% các điểm tập kết rác thải đảm bảo hoạt động hiệu quả, vệ sinh môi trường; 100% các trường học có nhà vệ sinh đảm bảo yêu cầu.

 (15). Tỷ lệ đô thị hóa đạt 38%.

3. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

3.1. Tạo chuyển biến rõ nét tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và bền vững hướng tới mục tiêu Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022

Tập trung phân tích các nguyên nhân chủ quan, khách quan, xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể gắn với các giải pháp đột phá nhằm khắc phục, xử lý dứt điểm những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra để phát triển toàn diện các lĩnh vực.

Tăng cường năng lực phân tích, dự báo, theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, trên địa bàn tỉnh để có đối sách phù hợp, kịp thời, không để bị động, bất ngờ. Tập trung xây dựng Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để dẫn dắt các hoạt động phát triển đúng hướng.

Giữ vững kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước; thực hiện tốt các giải pháp tăng thu ngân sách, quản lý chặt chẽ các nguồn thu, đảm bảo thu đúng, đủ theo quy định của pháp luật, thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng thu gắn với tăng trưởng kinh tế, thu hút các doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách, đảm bảo tăng thu bền vững. Thực hiện quản lý chặt chẽ việc chi tiêu công trên địa bàn, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, thiết thực trong phạm vi dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo đúng chế độ quy định. Quản lý chặt chẽ đầu tư công, thực hiện có hiệu quả kế hoạch đầu tư trung hạn; tạo chuyển biến rõ nét trong giải ngân vốn đầu tư công; thực hiện nghiêm quy định pháp luật về đấu thầu, áp dụng rộng rãi đấu thầu qua mạng, bảo đảm thực chất, công khai, minh bạch. Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công.

Nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, ngân hàng gắn với phát triển dịch vụ và thị trường tài chính, phục vụ sản xuất và đời sống, tăng cường công tác quản lý hoạt động các ngân hàng thương mại, kiểm soát và xử lý tốt nợ xấu.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và chất lượng thu hút đầu tư, tạo động lực tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, chú trọng các giải pháp, lộ trình cụ thể để tăng nhanh điểm số và xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nhất là những chỉ tiêu đang xếp hạng thấp. Tăng cường sự công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin trên các lĩnh vực.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước, thu hút các dự án có công nghệ cao, suất đầu tư lớn, sử dụng đất tiết kiệm, tạo nguồn thu ngân sách lớn, thân thiện với môi trường tiềm năng đóng góp, lan tỏa, gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ; thực hiện ưu đãi, khuyến khích đổi mới thiết bị công nghệ tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Chú trọng việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, hệ thống quản lý hiện đại từ các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới; các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến từ các nền kinh tế phát triển.

Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các cam kết của nhà đầu tư, quản lý doanh nghiệp sau cấp phép; nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ, thực hiện hiệu quả việc điều hành kiến tạo phát triển, phục vụ, điều tiết và giám sát. Thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã; khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp. Thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp. Đẩy mạnh và coi trọng phát triển kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế.

Đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu; phát huy vai trò của thị trường trong nước là một động lực phát triển. Thực hiện hiệu quả và phát triển hơn nữa các hoạt động dịch vụ trong và ngoài Khu công nghiệp, thị trường trong nước gắn với cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam". Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao và thúc đẩy quá trình đô thị hóa, phát triển thị trường khu vực nông thôn, thực hiện có hiệu quả quy hoạch tổng thể phát triển khu vực dịch vụ, Nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển thương mại, dịch vụ theo hướng hiện đại, văn minh nhằm tăng tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế với các loại hình phân phối, dịch vụ tiện ích; chú trọng phát triển các dịch vụ tạo ra giá trị cao như: viễn thông, công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa thể thao, du lịch, mua sắm, tiêu dùng.... theo hướng liên kết mở, liên vùng, liên tỉnh, phát huy lợi thế cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô và trên 2 hành lang kinh tế. Phát triển hệ thống cửa hàng tiện ích, chợ bán buôn, các trung tâm hội chợ triển lãm, lưu chuyển hàng hóa quốc tế, trung tâm logistics, cảng cạn ICD; các kho bãi tại cảng sông; mạng lưới siêu thị đạt tiêu chuẩn quốc tế và khu vực;...

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo chủ trương của Bộ Chính trị, khai thác và tạo sức lan tỏa thu hút du khách đối với các tuyến, tour du lịch hấp dẫn như Dâu - Bút Tháp - Kinh Dương Vương - Bến Bình Than – Lệ Chi Viên – Lê Văn Thịnh; Đền Đô - Phật Tích – Chùa Dạm - Đền Bà Chúa Kho; khu lưu niệm Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Ngô Gia Tự, Hoàng Quốc Việt…; khai thác hiệu quả việc liên kết với các tỉnh, thành trong khu vực. Đẩy mạnh thực hiện các dự án khu vui chơi giải trí, du lịch sinh thái, kết hợp với nghỉ dưỡng, đô thị, trung tâm thương mại đẳng cấp quốc tế, kết nối di sản gắn với hành lang xanh 2 bờ sông Đuống. Nâng cao chất lượng các điểm du lịch, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên có đủ trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, am hiểu lịch sử, văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc.

Tiếp tục phát triển, tái cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng công nghệ cao hiện đại, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa hóa trong sản phẩm; tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ cho các ngành chủ lực tạo ra giá trị gia tăng cao theo chuỗi giá trị; hình thành cụm liên kết ngành trên cơ sở lấy doanh nghiệp lớn là hạt nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ là các vệ tinh cung ứng, tập trung vào ngành điện tử, viễn thông, cơ điện tử, hóa dược...; gắn với sự phát triển công nghiệp của vùng thủ đô Hà Nội, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các hành lang kinh tế.

Phát triển các khu, cụm công nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động gắn với phát triển đô thị, nhà ở cho công nhân, công trình hạ tầng xã hội như trường học, y tế, thiết chế văn hóa, thể thao, bảo đảm an ninh, phòng chống cháy nổ.

Thúc đẩy phát triển công nghiệp trong nước, công nghiệp làng nghề, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, sản phẩm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, quản lý ngoại thương, xử lý môi trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm, trách nhiệm xã hội, tiết kiệm năng lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm…

Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, an toàn và bền vững; đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới, triển khai xây dựng hiệu quả các mô hình xã nông thôn mới kiểu mẫu

Đẩy mạnh việc tích tụ ruộng đất, khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông dân và nông thôn; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; chú trọng chuyển đổi mô hình theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành nhiều mô hình liên kết chuỗi hộ gia đình trang trại nông - công nghiệp, các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng cao, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân với các sản phẩm sạch, vành đai xanh. Nhân rộng phát triển chăn nuôi trang trại tập trung ngoài khu dân cư gắn với chế biến, tiêu thụ.

Khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu hết năm 2019 toàn tỉnh có 96/97 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới và thêm 02 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới là huyện Thuận Thành, huyện Lương Tài; triển khai xây dựng các mô hình xã nông thôn mới kiểu mẫu; chú trọng phát triển, tăng cường công tác quản lý hợp tác xã, phát huy vai trò kinh tế hộ và kinh tế tư nhân. Tích cực triển khai phát triển đề án “Mỗi xã, phường một sản phẩm”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe toàn dân.

Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị và nông thôn theo hướng đồng bộ, văn minh, hiện đại để Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022 gắn với mối quan hệ với vùng Thủ đô, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và cả nước theo định hướng “hiện đại, văn minh, sinh thái, tri thức và đô thị thông minh” và phát huy các giá trị truyền thống, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, các di tích, danh thắng thiên nhiên. Xây dựng đô thị Bắc Ninh trở thành một trung tâm tài chính, thương mại, du lịch, tổ chức hội nghị, hội thảo, hoạt động thể thao cấp châu lục và không gian di sản, văn hóa quốc tế gắn với kiến trúc chính quyền điện tử và thành phố thông minh.

Thực hiện có hiệu quả các định hướng điều chỉnh quy hoạch vùng tỉnh, chương trình phát triển đô thị, hoàn chỉnh bộ khung về quy hoạch từ quy hoạch vùng tỉnh đến quy hoạch chi tiết, đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành việc nâng cấp các đô thị, nâng cao tỷ lệ đô thị hóa, đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm như Cầu Phật Tích – Đại Đồng Thành, Nút giao Tây Nam thành phố Bắc Ninh... Đẩy mạnh chương trình phát triển nhà ở xã hội, hạ tầng văn hóa thể thao giáo dục y tế phục vụ công nhân các khu công nghiệp.

Phát triển hệ thống đường bộ đối ngoại, chú trọng phát triển hệ thống giao thông nội tỉnh gắn kết liên hoàn, thống nhất kết nối các khu công nghiệp, đô thị, khu du lịch làm động lực phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nút giao quốc lộ 18 với quốc lộ 1 (nút giao cầu vượt Đại Phúc), đường gom Khu công nghiệp Quế Võ – Quốc lộ 18, tỉnh lộ 286 Chờ - Đông Phong, tỉnh lộ 276 Chờ - Lim, tỉnh lộ 287 nối quốc lộ 18 với quốc lộ 38. Quan tâm đầu tư phát triển hệ thống thoát nước, đê điều, công trình thủy lợi theo hướng đa mục tiêu, vừa đáp ứng nhu cầu phòng chống thiên tai, tưới tiêu chủ động vừa đáp ứng yêu cầu cấp, thoát nước.

Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh, chú trọng công tác đầu tư, đảm bảo an toàn hệ thống hạ tầng lưới điện nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt cho cả hiện tại và tương lai của quá trình phát triển, đặc biệt ở các khu công nghiệp Yên Phong II-C, VSIP II.

Hiện đại hóa hạ tầng thông tin và truyền thông là một trong yếu tố nền tảng để xây dựng đô thị hiện đại, nâng cao tri thức xã hội, đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh, công nghiệp công nghệ thông tin.

3.2. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hoá - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân

- Tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tăng cường giáo dục lý tưởng, cách mạng, đạo đức lối sống, truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ; tăng cường kỷ cương, nền nếp trong các cơ sở giáo dục, quản lý học sinh, sinh viên, bảo đảm an ninh, trật tự học đường, phòng chống bạo lực, tệ nạn xã hội, tai nạn thương tích, dịch bệnh, đuối nước với học sinh, sinh viên. Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực chất, mũi nhọn ở các cấp học đáp ứng yêu cầu phát triển; chủ động hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo. Mở rộng mạng lưới trường, lớp học phù hợp với sự gia tăng của dân số, đáp ứng tối đa nhu cầu học tập ở tất cả các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông, tập trung thực hiện đầu tư cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, kiên cố hóa trường, lớp học, đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục.

- Phát triển sự nghiệp y tế, thực hiện tốt Chương trình hành động, kế hoạch triển khai Nghị quyết Trung ương về công tác y tế, dân số trong tình hình mới, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ cho cán bộ và nhân dân; nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực ngành y tế, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của y tế dự phòng và y tế cơ sở; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động Trạm y tế. Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư phát triển hạ tầng y tế, tạo điều kiện và khuyến khích phát triển các bệnh viện, phòng khám đa khoa tư nhân và các trung tâm tư vấn sức khỏe. Tăng cường tuyên truyền, vận động và giáo dục các chủ trương, chính sách, pháp luật về dân số, kế hoạch hoá gia đình; nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ, tinh thần; chăm lo phát triển con người một cách toàn diện.

Tập trung cao cho công tác tuyên truyền, đảm bảo an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất, chế biến đến khâu lưu thông; đồng thời tuyên truyền hướng dẫn người dân lựa chọn và sử dụng thực phẩm an toàn, đưa Đề án “Bắc Ninh phấn đấu không còn thực phẩm bẩn” đi vào cuộc sống. Tăng cường công tác quản lý, thanh kiểm tra an toàn thực phẩm; thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp trong công tác quản lý ATTP với các sở, ngành và các huyện, thị xã, thành phố.

- Đẩy mạnh hỗ trợ đổi mới sáng tạo, ứng dụng, tiếp thu và làm chủ các tiến bộ, tạo bước chuyển mạnh trong phát triển và nhân rộng mô hình ứng dụng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển; khuyến khích các doanh nghiệp đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ, huy động sự đóng góp trí tuệ và vật chất cho sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ.

- Chú trọng xây dựng nền văn hóa và con người phát triển toàn diện, mang đậm bản sắc Bắc Ninh - Kinh Bắc, tạo nhiều sản phẩm văn hóa có chất lượng cao; tăng cường công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, di tích lịch sử văn hoá; chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức thành công Festival “Về miền Quan họ” năm 2019, Kỷ niệm 10 năm Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; Nâng cao chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; đẩy mạnh thực hiện nếp sống văn minh; tăng cường đầu tư xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao các cấp, chú trọng thiết chế văn hóa thể thao ở nông thôn và phục vụ trực tiếp người lao động.

Phát triển thể dục thể thao với phương châm kết hợp tốt phong trào thể dục, thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao, dân tộc và hiện đại.

- Đổi mới quản lý nhà nước về lao động, thực hiện đồng bộ, toàn diện các chính sách an sinh xã hội. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo, phát triển nghề theo hướng đáp ứng yêu cầu của xã hội; chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nhân rộng các mô hình tạo việc làm, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề; tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ cung ứng lao động, giao dịch, tìm hiểu và giới thiệu việc làm.

Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo bền vững, chính sách nhà ở, chăm lo đời sống, vật chất tinh thần cho nhân dân, công nhân tại các khu công nghiệp. Đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân tham gia công tác đền ơn đáp nghĩa”, chăm sóc tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách có mức sống cao hơn trung bình của tỉnh.

3.3. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu

Triển khai các giải pháp quyết liệt để thực hiện Quyết tâm chính trị năm 2019 là “Bắc Ninh hành động vì môi trường sạch”. Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương VII (Khóa XI) về quản lý tài nguyên môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt chủ trương của Trung ương về đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên và môi trường. Quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, nước ngầm, khoáng sản, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường đầu tư, đa dạng hóa và tăng cường xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xử lý rác thải, nước thải, huy động mọi nguồn lực phục vụ công tác bảo vệ môi trường nhất là các đô thị, khu, cụm công nghiệp và các làng nghề truyền thống, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải y tế. Làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chủ động sẵn sàng ứng phó kịp thời, xử lý hiệu quả các sự cố, thiên tai và cứu nạn, cứu hộ.

Tỉnh sẽ đầu tư hỗ trợ kinh phí bình quân mỗi xã, phường, thị trấn 3 tỷ đồng để đầu tư khu xử lý rác tập trung đối với những địa phương chưa có khu xử lý rác thải tập trung cấp huyện.

3.4. Cải cách hành chính mạnh mẽ, xây dựng bộ máy chính quyền các cấp vững mạnh; tăng cường công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo; quyết liệt phòng chống tham nhũng, lãng phí

Quyết liệt rà soát, đơn giản hóa, cắt giảm hơn nữa thủ tục hành chính, siết chặt kỷ luật hành chính, nâng cao các chỉ số điểm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), tăng cường thanh tra công vụ. Đẩy mạnh xây dựng, nâng cao hiệu quả kiến trúc chính quyền điện tử. Hiện đại hoá công sở, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành. Nâng cao chất lượng, hoạt động hiệu quả trung tâm hành chính công cấp tỉnh, cấp huyện, một cửa cấp xã và dịch vụ công trực tuyến. Tiếp nhận, xử lý nhanh và công khai kết quả giải quyết phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Cán bộ, công chức, viên chức mọi cấp, mọi ngành phải gần dân, sát cơ sở, nêu gương tốt hơn, phục vụ tốt hơn quần chúng nhân dân. Chú trọng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, quy định trách nhiệm người đứng đầu các cấp và trên các lĩnh vực quan trọng; nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ để phát huy tốt năng lực, phẩm chất.

Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đẩy mạnh công tác tuyên truyền; thực hiện tốt việc kê khai tài sản. Tăng cường công tác theo dõi, đôn đốc, xử lý theo kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.   

Đẩy mạnh cải cách tư pháp, tiếp tục lãnh đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về "chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ, phối hợp kịp thời, có hiệu quả giữa các cơ quan tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý; thực hiện tốt cơ chế giám sát của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp.

3.5. Xây dựng quốc phòng – quân sự địa phương vững mạnh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Xây dựng lực lượng quân đội và công an vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, tăng cường đầu tư đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh; tập trung xây dựng trụ sở doanh trại 4 Ban chỉ huy Quân sự cấp huyện đã được Bộ Quốc phòng, Quân khu I phê duyệt.

Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động, không để bị động bất ngờ; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, phá hoại; giải quyết kịp thời, hiệu quả tình hình nổi lên liên quan đến an ninh trật tự. Tăng cường công tác đấu tranh, trấn áp kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, đẩy lùi tệ nạn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, nhất là công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công tác phòng cháy, chữa cháy, làm giảm các vụ cháy nổ; tiếp tục thực hiện quyết liệt các giải pháp đảm bảo trật tự, an toàn giao thông, làm giảm tai nạn giao thông bền vững trên cả 3 tiêu chí.

3.6. Tập trung nghiên cứu, triển khai, thực hiện có hiệu quả các chính sách, quy định mới của Trung ương liên quan đến các ngành, lĩnh vực.v.v...

3.7. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông tạo sự đồng thuận cao và niềm tin trong toàn xã hội

Triển khai hiệu quả công tác thông tin truyền thông, thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn; phòng ngừa, ứng phó, khắc phục kịp thời các sự cố mất an toàn thông tin, an ninh mạng. Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc. Làm tốt công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể quần chúng, tạo đồng thuận xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tiếp tục phát triển hạ tầng bưu chính, viễn thông hiện đại, độ phủ rộng khắp, đảm bảo đồng bộ, chất lượng. Nâng cao chất lượng hoạt động, đổi mới nội dung, tăng thời lượng phát thanh, truyền hình và các cơ quan báo chí, sớm chuyển sang hệ thống kỹ thuật số, kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương./.

Lê Ngọc Tú - Tp.THQH

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 6579

Đã truy cập : 43871703