Tình hình kinh tế - xã hội 3 tháng đầu năm 2018 (Phần 1)

02/04/2018 10:10 Số lượt xem: 679

A. Những kết quả đạt được

I. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý I theo giá so sánh 2010 ước đạt 34.697,6 tỷ đồng, tăng 17,7% so với quý I/2017, đây là mức tăng cao so với cùng kỳ trong nhiều năm qua; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,8% chủ yếu do tăng ở ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21%; khu vực dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm), tăng 9,8%. Sở dĩ, kinh tế quý I năm nay tăng trưởng cao là do sản xuất công nghiệp của khu vực FDI vẫn duy trì được đà tăng trưởng cao nhờ có thêm nhà máy sản xuất màn hình tinh thể lỏng các loại đi vào hoạt động ổn định từ quý IV/2017, ước tính giá trị sản xuất của các doanh nghiệp FDI trong quý I bằng 75% của quý IV/2017 và tăng tới 45% so cùng kỳ năm trước. Ở khu vực dịch vụ, một số ngành tiếp tục được mở rộng về quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người lao động đang tiếp tục gia tăng trong các khu công nghiệp cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp, nên đạt mức tăng trưởng khá cao, như: ngành bán buôn, bán lẻ (tăng 9,8%); vận tải, kho bãi (tăng 11,7%); dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 13,5%); dịch vụ kinh doanh bất động sản (tăng 6,3%); các dịch vụ hành chính, hỗ trợ và phục vụ nhu cầu cá nhân cũng đều đạt mức tăng cao, từ 12-14%.

II. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1. Sản xuất nông nghiệp

1.1. Kết quả trồng trọt

- Kết quả sản xuất vụ đông: tổng diện tích gieo trồng cây rau màu vụ đông toàn tỉnh đạt 6.868,3 ha, bằng 91,6% kế hoạch và bằng 92,9% (giảm 527,6 ha) so với cùng vụ năm trước; trong đó, cây ngô đạt 838,5 ha, giảm 264,3 ha so cùng vụ năm trước, cây đậu tương đạt 27,1 ha, giảm 111,3 ha, cây rau màu đạt 5.692 ha, giảm 96,4 ha. Về năng suất và sản lượng, cây ngô đạt 49,3 tạ/ha, giảm 4,1 tạ/ha và sản lượng đạt 4.133 tấn, giảm 1.755 tấn so vụ đông năm trước; cây rau các loại, đạt 231,8 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha và sản lượng đạt 131.935 tấn, giảm 1.314,7 tấn (do giảm về diện tích). Giá trị trồng trọt (theo giá so sánh 2010) vụ đông năm nay đạt 658,4 tỷ đồng, giảm 1,4% so cùng vụ năm trước. Tuy nhiên, theo giá hiện hành giá trị sản xuất đạt 762,3 tỷ đồng, tăng 5,1% chủ yếu do nhóm cây thực phẩm ứng dụng CNC có sản lượng và giá bán khi thu hoạch cao hơn.

- Kết quả sản xuất vụ xuân: Đầu vụ thời tiết diễn biến không thuận, mưa phùn rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới việc cày ải, làm đất và quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng (đặc biệt là cây mạ). UBND tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo và hướng dẫn bà con nông dân tổ chức che phủ nilon đúng kỹ thuật, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên sinh trưởng, phát triển tốt, đảm bảo đủ mạ cấy hết diện tích. Đến nay toàn tỉnh đã gieo cấy vụ xuân được 33.868 ha, đạt 98,2% kế hoạch và bằng 99,9 % so cùng vụ năm trước (giảm 28,6ha); diện tích lúa chăm sóc đợt 1 được 18.510 ha lúa xuân, bằng 74,1% so cùng vụ năm trước. Cùng với gieo cấy lúa xuân, toàn tỉnh đã gieo trồng được 3.407,7 ha cây rau màu vụ xuân, đạt 73,8% so KH vụ và bằng 92,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó: Cây ngô đạt 821,4 ha, đạt 58,7% KH và bằng 76,1 %; cây lạc đạt 281 ha, bằng 60,9% so với cùng kỳ; rau các loại được 2.113,1 ha, tăng 8,8% so cùng kỳ.

A. Những kết quả đạt được

I. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý I theo giá so sánh 2010 ước đạt 34.697,6 tỷ đồng, tăng 17,7% so với quý I/2017, đây là mức tăng cao so với cùng kỳ trong nhiều năm qua; trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,8% chủ yếu do tăng ở ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 21%; khu vực dịch vụ (bao gồm cả thuế sản phẩm), tăng 9,8%. Sở dĩ, kinh tế quý I năm nay tăng trưởng cao là do sản xuất công nghiệp của khu vực FDI vẫn duy trì được đà tăng trưởng cao nhờ có thêm nhà máy sản xuất màn hình tinh thể lỏng các loại đi vào hoạt động ổn định từ quý IV/2017, ước tính giá trị sản xuất của các doanh nghiệp FDI trong quý I bằng 75% của quý IV/2017 và tăng tới 45% so cùng kỳ năm trước. Ở khu vực dịch vụ, một số ngành tiếp tục được mở rộng về quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người lao động đang tiếp tục gia tăng trong các khu công nghiệp cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp, nên đạt mức tăng trưởng khá cao, như: ngành bán buôn, bán lẻ (tăng 9,8%); vận tải, kho bãi (tăng 11,7%); dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 13,5%); dịch vụ kinh doanh bất động sản (tăng 6,3%); các dịch vụ hành chính, hỗ trợ và phục vụ nhu cầu cá nhân cũng đều đạt mức tăng cao, từ 12-14%.

II. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

1. Sản xuất nông nghiệp

1.1. Kết quả trồng trọt

- Kết quả sản xuất vụ đông: tổng diện tích gieo trồng cây rau màu vụ đông toàn tỉnh đạt 6.868,3 ha, bằng 91,6% kế hoạch và bằng 92,9% (giảm 527,6 ha) so với cùng vụ năm trước; trong đó, cây ngô đạt 838,5 ha, giảm 264,3 ha so cùng vụ năm trước, cây đậu tương đạt 27,1 ha, giảm 111,3 ha, cây rau màu đạt 5.692 ha, giảm 96,4 ha. Về năng suất và sản lượng, cây ngô đạt 49,3 tạ/ha, giảm 4,1 tạ/ha và sản lượng đạt 4.133 tấn, giảm 1.755 tấn so vụ đông năm trước; cây rau các loại, đạt 231,8 tạ/ha, tăng 1,6 tạ/ha và sản lượng đạt 131.935 tấn, giảm 1.314,7 tấn (do giảm về diện tích). Giá trị trồng trọt (theo giá so sánh 2010) vụ đông năm nay đạt 658,4 tỷ đồng, giảm 1,4% so cùng vụ năm trước. Tuy nhiên, theo giá hiện hành giá trị sản xuất đạt 762,3 tỷ đồng, tăng 5,1% chủ yếu do nhóm cây thực phẩm ứng dụng CNC có sản lượng và giá bán khi thu hoạch cao hơn.

- Kết quả sản xuất vụ xuân: Đầu vụ thời tiết diễn biến không thuận, mưa phùn rét đậm, rét hại ảnh hưởng tới việc cày ải, làm đất và quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng (đặc biệt là cây mạ). UBND tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo và hướng dẫn bà con nông dân tổ chức che phủ nilon đúng kỹ thuật, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên sinh trưởng, phát triển tốt, đảm bảo đủ mạ cấy hết diện tích. Đến nay toàn tỉnh đã gieo cấy vụ xuân được 33.868 ha, đạt 98,2% kế hoạch và bằng 99,9 % so cùng vụ năm trước (giảm 28,6ha); diện tích lúa chăm sóc đợt 1 được 18.510 ha lúa xuân, bằng 74,1% so cùng vụ năm trước. Cùng với gieo cấy lúa xuân, toàn tỉnh đã gieo trồng được 3.407,7 ha cây rau màu vụ xuân, đạt 73,8% so KH vụ và bằng 92,6% so cùng kỳ năm trước; trong đó: Cây ngô đạt 821,4 ha, đạt 58,7% KH và bằng 76,1 %; cây lạc đạt 281 ha, bằng 60,9% so với cùng kỳ; rau các loại được 2.113,1 ha, tăng 8,8% so cùng kỳ.

1.2. Chăn nuôi và công tác thú y

- Chăn nuôi: Tính đến cuối tháng 3, toàn tỉnh có 2.285 con trâu, tăng 0,7% (tăng15 con) so cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 30.100 con, giảm 4,3% (giảm 1.358 con), trong đó có 683 con bò sữa, tăng 31,3% (tăng 163 con); đàn lợn có 341.340 con, giảm 3,2%  (giảm 11.160 con); đàn gia cầm có 4.501,5 nghìn con, tăng 1,2% (tăng 52,5 ngàn con). Sản lượng thịt hơi gia súc gia cầm xuất chuồng quý I ước đạt 7.813 tấn, tăng 1,2% so cùng kỳ năm trước.

- Công tác thú y: Trong quý I, mặc dù trên địa bàn xảy ra 1 ổ dịch lở mồm long móng, nhưng nhờ phát hiện sớm, kịp thời tiêu hủy và triển khai các biện pháp khử trùng khoang vùng, nên đã khống chế không để lây lan. Đến nay, sau không phát hiện thêm ổ dịch mới và hoạt động chăn nuôi diễn ra bình thường; tuy nhiên, hiện nay thời tiết đang ẩm thấp kéo dài nên nguy cơ tái phát dịch rất lớn. Hiện nay, ngành Thú y đã phối hợp với các địa phương triển khai tiêm phòng bổ sung, phối hợp với đội liên ngành tăng cường công tác giám sát tại các địa phương đã từng xảy ra dịch; công tác tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở, hộ chăn nuôi áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc chuồng trại sạch sẽ được đẩy mạnh, lồng ghép cùng với các đợt tiêm phòng đại trà, đến nay toàn tỉnh đã tiêm được 100 nghìn liều vắc xin lở mồm long móng cho đàn gia súc; công tác kiểm dịch vận chuyển, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y cũng được thực hiện thường xuyên.

2. Lâm nghiệp

Trong quý I, các hộ dân được giao trồng rừng chủ yếu tập trung thu dọn thực bì, cuốc hố, chuẩn bị mọi điều kiện và từng bước triển khai trồng rừng theo kế hoạch. Riêng ngày 25-2 (tức ngày mùng 10 Tết), Ủy ban nhân dân tỉnh đã phát động Tết trồng cây với sự tham gia của đông đảo cán bộ, học sinh và nhân dân các địa phương và đã trồng được 116 nghìn cây phân tán.

3. Thủy sản

Trong quý I, các cơ sở nuôi trồng đã tổ chức tu bổ, sửa chữa hệ thống ao, hồ, bể, cống cấp và thoát nước; cải tạo, nạo vét khử trùng vệ sinh đáy ao, hồ; tôn cao bờ để chuẩn bị nuôi thả cá vụ mới. Đến cuối quý I, diện tích nuôi trồng thủy sản ước tính còn 5.231,4 ha, giảm 8,6 ha so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác quý I đạt 9.678 tấn, tăng 1,8% (tăng 171 tấn) so với cùng kỳ; trong đó, nuôi lồng bè đạt 1.104 tấn, tăng 4,9% so cùng kỳ.

Ban biên tập

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 29953

Đã truy cập : 43015274