Những điểm mới về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) trong Nghị định 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ

05/11/2018 10:00 Số lượt xem: 124

Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dự án giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình hạ tầng, cung cấp dịch vụ công.

Việc kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP góp phần giảm bớt gánh nặng chi trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước, tăng tiềm năng về đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng hiệu quả cung cấp dịch vụ và quản lý rủi ro... Việc thực hiện dự án PPP theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên quá trình triển khai cũng còn nhiều tồn tại, hạn chế đến từ những nguyên nhân như sự bất hợp lý về quy định liên quan đến dự án PPP như: quy định về chủ trương đầu tư dự án PPP; nguồn lực tài chính bố trí để chuẩn bị dự án và phần Nhà nước tham gia vào các dự án PPP hạn chế, chưa rõ ràng; trình tự thực hiện dự án PPP còn chưa phù hợp với mọi loại dự án, nhất là dự án áp dụng công nghệ cao; nguồn thanh toán theo hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (viết tắt là hợp đồng BLT), hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (viết tắt là hợp đồng BTL) còn hạn hẹp; thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thật sự không cần thiết, đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật chuyên ngành. Bên cạnh đó, vấn đề đặt ra trong thực tiễn là cần có quy định rõ ràng nhằm quản lý chặt chẽ hơn đối với dự án thực hiện theo Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT).

Nhằm khắc phục một số tồn tại nêu trên, ngày 04/5/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2018/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư thay thế Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ; Theo đó, Nghị định mới ra đời đã quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn đối với việc thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức PPP, cụ thể:

1. Về lĩnh vực đầu tư: Đã bổ sung thêm một số lĩnh vực đầu tư gồm: công viên, nhà, sân bãi để ô tô, xe, máy móc, thiết bị; nhà ở công vụ, hạ tầng khu đô thị, hạ tầng kỹ thuật công nghệ cao; cơ sở ươm tạo, cơ sở kỹ thuật, khu làm việc chung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2. Về các loại hợp đồng áp dụng trong đầu tư PPP: Ngoài các loại hợp đồng theo quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP, Nghị định đã bổ sung thêm Hợp đồng hỗn hợp, đây là Hợp đồng dự án kết hợp các loại hợp đồng được quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 3 Nghị định 63/2018/NĐ-CP.

3. Về tỷ lệ vốn chủ sở hữu: Nghị định đã quy định tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư so với quy định tại Nghị định 15/2015/NĐ-CP. Cụ thể tại Điều 10, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc lũy tuyến như sau: Đối với dự án có tổng vốn đầu tư đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư; Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo nguyên tắc:  Đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 20%; đối với phần vốn từ trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10%.

Như vậy, có thể thấy quy định mới hướng đến việc lựa chọn nhà đầu tư có năng lực tài chính vững vàng hơn so với trước, tránh được tình trạng nhà đầu tư dựa phần lớn vào vốn vay ngân hàng để thực hiện dự án, dễ dẫn đến những hệ lụy như mất khả năng thanh toán, “treo” hoặc làm đội vốn dự án, tăng thời gian khai thác dự án...

4. Bổ sung thêm việc thực hiện dự án PPP của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp (cụ thể tại Khoản 2 Điều 8), cụ thể: “Trường hợp sử dụng tài sản công theo pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật về hội để tham gia dự án PPP, các cơ quan, tổ chức, đơn vị này báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc giao một cơ quan nhà nước làm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết, thực hiện hợp đồng của dự án”.

5. Về lĩnh vực vốn, bổ sung nguồn vốn Nhà nước tham gia trong dự án PPP (Nguồn chi thường xuyên, nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công, nguồn vốn thanh toán cho các dự án theo hợp đồng BT); Cụ thể: Đối với vốn thanh toán cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ theo hợp đồng BLT, BTL được quy định rõ ràng tại Khoản 3 Điều 11: “Vốn thanh toán cho nhà đầu tư được bố trí từ nguồn vốn đầu tư công, nguồn chi thường xuyên nhằm duy trì hoạt động cung cấp dịch vụ công, nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công. Đồng thời, bổ sung hướng dẫn thêm về lập dự toán tại Điều 14 về việc lập dự toán nguồn chi thường xuyên và nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công làm phần vốn thanh toán cho nhà đầu tư.

6. Bổ sung thêm nội dung  quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án do Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh lập và phân cấp cụ thể hơn, trong đó:

- Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư dự án quan trọng quốc gia.

- Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư các dự án sau đây:

+ Dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách trung ương từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 300 tỷ đồng trong tổng vốn đầu tư của dự án;

+ Dự án nhóm A áp dụng loại hợp đồng BT.

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư dự án không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 và 2 Điều này của bộ, ngành mình.

- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư các dự án sau đây:

+ Dự án nhóm A không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này;

+ Dự án nhóm B sử dụng vốn đầu tư công;

+ Dự án nhóm B áp dụng loại hợp đồng BT.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chủ trương đầu tư dự án không thuộc các trường hợp quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều này của địa phương mình.

7. Bãi bỏ: thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước khi ký kết hợp đồng dự án; thủ tục cấp quyết định chủ trương đầu tư và ký quỹ thực hiện dự án khác đối ứng cho dự án BT.

8. Đã có một Chương riêng quy định chặt chẽ hơn về dự án thực hiện theo hợp đồng BT (Chương V) như: tổ chức lựa chọn nhà đầu tư sau khi có thiết kế, dự toán; bổ sung thêm các nguồn thanh toán khác ngoài quỹ đất như: trụ sở làm việc, tài sản kết cấu hạ tầng, nhượng quyền kinh doanh, khai thác công trình, dịch vụ; quy hoạch chi tiết của khu đất dự kiến thanh toán...

9. Bổ sung quy định công khai thông tin hợp đồng dự án PPP trên thông tin đại chúng, cụ thể tại Điều 41: Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ký kết hợp đồng dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai thông tin hợp đồng dự án trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Điều này thể hiện thông tin minh bạch trong các dự án PPP.

10. Việc quy định chuyển tiếp thực hiện dự án tại Điều 76 của Nghị định tương đối rõ ràng; theo đó, việc quy định rõ các trường hợp tiếp tục triển khai thực hiện theo Nghị định 15/2015/NĐ-CP và các trường hợp phải thực hiện theo Nghị định 63/2018/NĐ-CP. Trường hợp khác chưa quy định sẽ được Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Nghị định 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (có hiệu lực từ ngày 19/6/2018) đã hoàn thiện hơn trong quy định của pháp luật về thực hiện dự án PPP như: tăng cường tính phân cấp, tự chịu trách nhiệm ở các Bộ, ngành, địa phương; loại bớt những nhà đầu tư yếu kém về năng lực tài chính; gia tăng hình thức tham gia của Nhà nước vào các dự án PPP, gia tăng sự tham gia của nhà đầu tư vào các dự án PPP, giúp giảm gánh nặng chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước và cụ thể hóa một số nội dung dễ triển thực hiện tại địa phương.

Tuy nhiên, mặc dù Nghị định đã có hiệu lực từ 19/6/2018 nhưng đến nay vẫn chưa có Thông tư hướng dẫn thực hiện; Bên cạnh đó, việc Chính phủ chưa ban hành Nghị định thanh toán cho Nhà đầu tư thực hiện dự án BT cũng đặt ra khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện dự án BT tại địa phương./.

Ban biên tập

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 678

Đã truy cập : 42986806