Doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

04/12/2018 16:16 Số lượt xem: 40

Là một địa phương “sáng giá” nhất cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Bắc Ninh có sự hiện diện của nhiều “ông chủ” lớn của các tập đoàn công nghiệp toàn cầu đó là: Samsung, Canon, Suntory-PepsiCo, Foxconn, Sembcorp…Với sự góp mặt của 1260 dự án FDI (còn hiệu lực) chuyên sản xuất, cung ứng sản phẩm ở nhiều lĩnh vực, trong đó trọng tâm là điện tử viễn thông, đã đưa Bắc Ninh trở thành “thủ phủ” sản xuất, xuất khẩu hàng điện tử, CNTT lớn trong nước và quốc tế. Lợi thế đó không chỉ tạo cho tỉnh thế mạnh nâng cao giá trị xuất khẩu, quy mô nền kinh tế, đẩy mạnh tăng trưởng, mà đặc biệt còn đem đến nhiều cơ hội cho doanh nghiệp nội địa khai thác nội lực, kết nối với các nhà đầu tư nước ngoài thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) phát triển, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. 

Bài 2 (Phần cuối)

Tiềm năng lớn nhưng CNHT phát triển chưa tương xứng

Tuy cơ hội để cho ngành CNHT phát triển tại Bắc Ninh rất lớn, thế nhưng, thời gian qua  và nhất là khi Việt Nam đã gia nhập WTO, tham gia các  Hiệp định thương mại FTA thế hệ mới, năm 2018 là Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ CPTPP…nhưng  các DN phụ trợ trong nước dường như vẫn loay hoay tìm đường hội nhập, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng.

Những lực cản tác động

Nguyên nhân chính dẫn tới các DN nội địa khó “chen chân” được vào chuỗi giá trí đó là: do nhiều DN còn rất yếu, chưa có kinh nghiệm cũng như trải nghiệm thực sự trong vấn đề sản xuất các sản phẩm công nghệ cao; Thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao, chất lượng sản phẩm vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện tại; Sản xuất manh mún, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp các sản phẩm hiện đại, sự chuyên môn hóa giữa các cơ sở sản xuất chưa cao, dẫn đến năng lực cạnh thấp; Thiếu hẳn sự phối hợp, liên kết giữa các nhà cung ứng với nhau, giữa các DN FDI với các DN nội địa. … Những điều này gây khó khăn cho không chỉ DN sản xuất linh kiện, phụ kiện, bán sản phẩm mà còn gây khó khăn cho các đơn vị sản xuất và lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh.

Hiện có 3 vấn đề lớn mà nhiều DN CNHT trong nước đang vấp phải đó là: vốn, mặt bằng sản xuất và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Mặc dù Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi cho các lĩnh vực này, nhưng trong thực tế, số DN hỗ trợ được thụ hưởng còn rất ít. Hầu hết DN đều “tự bơi”, nên nhiều cơ sở sau nhiều năm thành lập vẫn không lớn mạnh nổi. Do đó, các DN đầu tư vào lĩnh vực CNHT không nhiều. Giám đốc Công ty Cổ phần giấy Hưng Lợi Ngô Xuân Lợi (CCN Phú Lâm, Tiên Du) chia sẻ: “Thị trường hiện nay có nhiều biến động, cơ hội và thách thức thường đi kèm. Để an toàn, Công ty chỉ tập trung vào sản xuất đáp ứng những khách hàng truyền thống và chưa có ý định mở rộng vì cạnh tranh không dễ. DN hỗ trợ trong nước phần lớn khó phát triển vì thiếu vốn, mặt bằng sản xuất và khó biết trước nhu cầu của thị trường…”. Băn khoăn của ông Lợi cũng là nỗi niềm của nhiều DN NVV trong tỉnh.

Đối với lĩnh vực chế tạo thép (đúc phôi) vốn là ngành truyền thống của tỉnh phát triển tự phát, sản phẩm chủ yếu để sản xuất vật liệu cho ngành xây dựng trong nước. Các sản phẩm hỗ trợ của tỉnh trong ngành này nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, giá lại cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu, do chi phí sản xuất cao.

Với các DN có nhiều cơ hội trở thành nhà cung cấp thì hầu hết được khởi nghiệp từ nông thôn, trưởng thành theo công thức chung là tích lũy vốn từ đất đai, tài nguyên, quản lý theo mô hình “gia đình”, rất ít DN được hình thành và phát triển từ ý tưởng sáng tạo, phát minh hoặc phát triển công nghiệp mới. Phương pháp tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý mang nặng tính tự phát hoặc theo tập quán. Công ty Giấy và Bao bì Phú Giang (Phú Lâm, Tiên Du) là một trong những DN có tiếng của tỉnh nhưng được hình hành và phát triển trên nền tảng của làng nghề truyền thống và kinh tế hộ. Mặc dù, Công ty có những bước lớn mạnh và có chiến lược kinh doanh tốt, kết hợp với đầu tư thiết bị chất lượng, nhưng sản phẩm cơ bản chỉ tiêu thụ nội địa, chưa trực tiếp cung ứng tới các DN FDI lớn đầu tư tại tỉnh, chưa nói tới chuyện tiến xa hơn ra thị trường toàn cầu. Và còn rất nhiều DNNVV cũng tương tự như vậy.

Đối với nhóm các DN lớn với xuất phát điểm là các DN nhà nước chịu ảnh hưởng bởi tính bao cấp nên thiếu sự năng động và chậm thích ứng với thị trường. Bởi vậy, hầu hết các DN sản xuất các sản phẩm hỗ trợ chủ yếu phục vụ các tập đoàn đa quốc gia trên địa bàn đều là DN FDI.

Tổng Giám đốc Samsung Việt Nam Shim Won Hwan chỉ rõ những hạn chế của DN nội địa: Thứ nhất, có rất nhiều DN Việt Nam thực sự còn rất yếu kém. Ví dụ như họ chưa có kinh nghiệm cũng như trải nghiệm thực sự trong vấn đề sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, thiếu kiến thức cũng như kinh nghiệm trong việc bán sản phẩm cho khách hàng có thị trường toàn cầu và phải sản xuất các sản phẩm chất lượng hàng đầu với mức giá hợp lý. Thứ hai là thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao. Thứ ba, chất lượng sản phẩm họ làm ra vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện tại. Đó là lý do tại sao các DN FDI vẫn phải “đem” các nhà cung cấp từ bên ngoài vào thay vì các DN Việt, điển hình như: Nhà máy Samsung SDI chuyên sản xuất pin; Samsung Display chuyên sản xuất màn hình; Công ty Intops, Công ty Hana Micro (KCN Yên Phong) cung cấp linh kiện điện tử chi tiết, gia công vi mạch tích hợp…

Đây là những lực cản lớn làm giảm tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm mũi nhọn được sản xuất trên địa bàn tỉnh, nhất là nhóm các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại di động, máy in, máy tính và thiết bị ngoại vi…

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra với nhiều cơ hội, song cũng không ít thách thức. Trong cuộc cách mạng này các DN sẽ tăng trưởng nhanh nếu cập nhật kịp thời xu hướng công nghệ. Ngược lại, nếu “lạc nhịp” về công nghệ, DN sẽ phải thu hẹp quy mô, thậm chí sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Theo ông Bùi Hoàng Mai, Trưởng Ban Quản lý các KCN tỉnh thì: Cập nhật xu hướng công nghệ mới, thay đổi phương thức quản trị là vấn đề mấu chốt quyết định sự tồn tại và phát triển của DN nội địa trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Dưới tác động của CMCN 4.0 có nhiều ngành (du lịch, CNTT, giáo dục, y tế…) sẽ được hưởng lợi từ nền tảng kết nối dữ liệu, số hóa. Trong khi đó, một số ngành như năng lượng, điện, điện tử, công nghiệp chế tạo, đặc biệt là ngành CNHT sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến chi phí điều chỉnh trong ngắn hạn và trung hạn. DN sẽ tăng trưởng nhanh nếu nắm bắt được cơ hội, cập nhật kịp thời xu hướng công nghệ và tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Ngược lại, nếu “lạc nhịp” về công nghệ, DN sẽ phải thu hẹp quy mô, thậm chí sẽ bị đào thải khỏi thị trường. 

 

Ban biên tập

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 2721

Đã truy cập : 43086761